Xơ phổi thường gặp ở độ tuổi 50-70 và những điều cần biết

Xơ phổi thường gặp ở độ tuổi 50-70 và những điều cần biết

Xơ phổi là bệnh lý mạn tính, trong đó các mô ở sâu trong phổi dày bị tổn thương trở nên dày và cứng hơn do mất tính đàn hồi (tính co giãn) và hình thành các sẹo. Các sẹo này chính là xơ phổi, các xơ phổi hình thành sẽ gây cản trở cho quá trinh lưu thông khí. Ho đờm nhiều, khó thở tăng, đau tức ngực và nhức mỏi toàn thân là những triệu chứng khó chịu khi xơ phổi đã tiến triển nặng

Hình ảnh các xơ trong phổi
Hình ảnh các xơ trong phổi

Các dạng xơ phổi

Có 3 dạng xơ phổi:

  • Xơ phổi thứ phát: là tình trạng xuất hiện sau một số bệnh lý hay sau khi có tổn thương phổi, chẳng hạn như sau lao phổi, viêm phổi, nhồi máu phổi với các triệu chứng tiêu biểu là ho đờm, khó thở.
  • Xơ phổi khu trú là tình trạng do người bệnh phải làm việc trong môi trường ô nhiễm và hít phải các chất gây kích thích, ví dụ như bụi than, silica, Ho đờm nhiều, khó thở tăng, đau tức ngực và nhức mỏi toàn thân là những triệu chứng khó chịu khi bệnh tiến triển nặng
  • Xơ phổi vô căn: Còn được biết đến là Bệnh phổi mô kẽ lan tỏa (Diffuse parenchymal lung disease, DPLD), và viêm phổi tăng cảm  (còn gọi  là bệnh viêm phế nang dị ứng ngoại la, extrinsic allergic alveolitis). Đây là trường hợp không có biểu hiện bệnh lý nào trước khi xảy ra xơ phổi.

Những ai có nguy cơ mắc xơ phổi?

Các đối tượng mắc xơ phổi có thể ở từng độ tuổi, từng chủng tộc khác nhau, thường thấy nhất là ở những người từ 50-70 tuổi. Tuy nhiên, dạng bệnh phổi mô kẽ, chẳng hạn như sarcoidosis, bệnh lý mô liên kết và các bệnh phổi do di truyền thì thường xảy ra ở những người trẻ tuổi hơn. Ho đờm nhiều, khó thở tăng, đau tức ngực và nhức mỏi toàn thân là những triệu chứng khó chịu khi bệnh tiến triển nặng

Các yếu tố gây nguy cơ

  • Do môi trường làm việc ô nhiễm, nhiều khói bụi.
  • Do nhiễm trùng đường hô hấp.
  • Lạm dụng thuốc lá hoặc tiếp xúc với khói thuốc lá thường xuyên.
  • Do mắc phải trào ngược dạ dày – thực quản.
  • Do việc sử dụng thuốc.
  • Do di truyền.

Nguyên nhân xơ phổi

Nguyên nhân xơ phổi đến từ rất nhiều trường hợp. Ho đờm nhiều, khó thở tăng, đau tức ngực và nhức mỏi toàn thân là những triệu chứng khó chịu khi bệnh tiến triển nặng

  • Từ các tổn thương phổi ở các bệnh lý khác: lao, viêm phổi, nhồi máu phổi,… (bệnh phổi thứ phát)

  • Do môi trường: hít phải bụi than ở hầm mỏ, hay hít phải hóa chất, hơi độc, khí dung như NO, silica, asbestos,… (Bệnh bụi phổi). Hay ở những người nông dân, trồng nấm hít phải nấm mốc rơm rạ hoặc các yếu tố gây dị ứng trong quá trình chăn gà vịt ngan (bệnh viêm phế nang dị ứng)

  • Do mắc phải các

    bệnh lý mô hạt : sarcoidosis.

  • Do sử dụng các loại thuốc như: bleomycine, methotrexate, aminodarone, penicilamine, busulfan, nitrofurantoin, và các chất gây kích thích như cocaine, heroin.
  • Do bệnh nhân tiếp xúc với tia xạ.
  • Do mắc phải các bệnh lý mô liên kết (bệnh xơ cứng bì, lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp,…), từ các bệnh hệ thống (như hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải hoặc viêm gan siêu vi C)
  • Ngoài ra có thể do yếu tố di truyền: bệnh u xơ cứng củ, bệnh xơ phổi vô căn có tính chất gia đình,…

Xơ phổi và những biểu hiện của bệnh

Tùy theo các bệnh lý nền có sẵn mà bệnh nhân có các biểu hiện khác nhau. Xơ phổi có thể xuất hiện cấp tính với những đợt bùng phát rồi thuyên giảm dần, có thể biểu hiên bán cấp với tình trạng nhiều lần bệnh tái phát trở lại sau đó thuyên giảm. Bên cạnh đó có những trường hợp bênh xuất hiện âm ỉ, mạn tính và phát triển dần theo thời gian.

Biểu hiện bệnh xơ phổi

Ho kéo dài, ho ra máu.

Khó thở, thở mệt.

Khò khè.

Đau ngực.

Ho đờm nhiều, khó thở tăng, đau tức ngực và nhức mỏi toàn thân là những triệu chứng khó chịu khi bệnh tiến triển nặng

Trong tình trạng thăm khám tại cách bệnh viện, phát hiện rales nổ nhỏ hạt cuối thì hít vào. Ở các giai đoạn muộn thì có các biểu hiện tím trung ương, ngón tay dùi trống, tăng áp phổi, suy tim.

Có thể phát hiện thông qua kiểm tra XQ phổi và đo hô hấp ký, chẳng hạn như kiểm tra sức khỏe ở những đối tượng có nguy cơ bệnh cao do môi trường nghề nghiệp.

Đau tức ngực là dấu hiệu của bệnh xơ phổi
Đau tức ngực là dấu hiệu của bệnh xơ phổi

Chẩn đoán phân biệt

Xơ phổi cũng có thể bị nhầm lẫn do có những triệu chứng và dấu hiện khá giống với các bệnh phổi khác như:

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic obstructive pulmonary disease – COPD)

Giãn phế quản.

Hen suyễn.

Suy tim xung huyết.

Bệnh phổi không điển hình.

Ung thư phổi.

Ho đờm nhiều, khó thở tăng, đau tức ngực và nhức mỏi toàn thân là những triệu chứng khó chịu khi bệnh tiến triển nặng

Xét nghiệm và khảo sát đối với xơ phổi

Bệnh sử và tiền sử: Tìm kiếm các yếu tố nguy cơ từ nghề nghiệp hoặc môi trường như tiếp xúc với amiăng, silica, hóa chất độc hại.

Xét nghiệm máu: có thể có thiếu máu nhẹ; ESR, CRP có thể tăng.

Kháng thể tự miễn: kháng thể kháng nhân, yếu tố thấp.

Khí máu động mạch: Đánh giá độ bão hòa oxy máu, thường là độ bão hòa oxy máu giảm.

Kiểm tra chức năng phổi có thể thấy: Phát hiện hội chứng hạn chế, giảm TLC, RC, RV, trao đổi khí.

Chụp XQ phổi có thể bình thường, hay có thể thấy tổn thương nốt hay lưới. Tổn thương dạng tổ ong (honeycombing) xuất hiện ở giai đoạn muộn, tình trạng bệnh tiến triển nặng.

CT scan ngực độ phân giải cao: khảo sát tốt hơn phim XQ phổi.

Rửa phế quản phế nang: chủ yếu áp dụng trong việc nghiên cứu bệnh phổi vô căn.

Sinh thiết phổi: Xác định chẩn đoán trong một số trường hợp.

Ví dụ hình ảnh X-quang của bệnh nhân xơ phổi
Ví dụ hình ảnh X-quang của bệnh nhân xơ phổi

Điều trị xơ phổi

Quá trình điều trị không thể chữa khỏi được. Ho đờm nhiều, khó thở tăng, đau tức ngực và nhức mỏi toàn thân là những triệu chứng khó chịu khi bệnh tiến triển nặng. Tuy nhiên có thể cải thiện chức năng phổi và chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Tùy vào từng cá thể mà có thể thay đổi liệu pháp điều trị. Cần can thiệp từ những nguyên nhân gây nên bệnh lý, nếu như còn thể.

Điều trị hỗ trợ trong xơ phổi

  • Dừng việc sử dụng thuốc lá, thuốc lào.
  • Tránh các yếu tố nguy cơ đến từ môi trường hay yếu tố nghề nghiệp (các hóa chất, khói, bụi)
  • Ngừng việc sử dụng thuốc có nguy cơ gây ra bệnh.
  • Tiêm phòng cúm và phế cầu.
  • Sử dụng liệu pháp oxy đối với bệnh nhân thiếu oxy máu.
  • Phục hồi chức năng hô hấp.
  • Thực hiện các chế độ dinh dưỡng đầy đủ và lành mạnh.

Điều trị thuốc trong xơ phổi

  • Các thuốc ức chế miễn dịch: corticosteroid và/hoặc azathioprine.
  • Các thuốc ức chế miễn dịch và chống xơ hóa: D-penicillamine, colchicine, pirfenidone, ciclosporin cũng được cho là có tác dụng.
  • N-acetylcystein.

Ghép phổi:

Là phương pháp điều trị hiệu quả. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ áp dụng cho số ít bệnh nhân do việc phẫu thuật ghép phổi có nhiều nguy cơ và biến chứng.

Tiên lượng xơ phổi

Tùy vào mức độ bệnh mà đưa ra những thay đổi cho bệnh nhân.
Các yếu tố cho tiên lượng xấu:

Lớn tuổi.

Nam giới.

Khó thở nặng.

Tiền căn hút thuốc lá.

Giảm chức năng phổi nặng.

Sử dụng hình ảnh Xquang xơ phổi và CT scan ngực phát hiện những tổn thương xơ nặng trên hình ảnh.

Kém đáp ứng với điều trị.

Quá trình khảo sát mô học phát hiện thấy nhiều tổn thương xơ.

 

Các tài liệu tham khảo:

https://www.phoiviet.com/new/511/xo-phoi.html

http://www.bn.co.uk/doctor/pulmonary-fibrosis

http://www.pulmonaryfibrosis.org

 

Chia sẻ :
Đánh giá bài viết :
0/5 (0 bình chọn)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *